Nhằm cập nhật kiến thức chuyên môn và nâng cao hiệu quả sử dụng thuốc trong thực hành lâm sàng, chiều ngày 30/01/2026, Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp tổ chức hội thảo chuyên đề dược lâm sàng với chủ đề “Sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và hiệu quả trong thực hành lâm sàng”.
TTƯT.TS.BS Tống Lê Văn – Phó Giám đốc Bệnh viện chủ trì buổi hội thảo khoa học tại Bệnh viện Đa khoa Nông Nghiệp
Buổi hội thảo với sự góp mặt của TTƯT.TS.BS Tống Lê Văn – Phó Giám đốc Bệnh viện và 2 báo cáo viên: NCS.ThS Nguyễn Thị Thu Thủy – Bộ môn Dược Lâm sàng, Trường Đại học Dược Hà Nội và ThS.DS Lê Thị Thu – Khoa Dược, Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp cùng toàn thể bác sĩ và nhân viên y tế Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp.
NCS.ThS Nguyễn Thị Thu Thủy trình bày bài “Dược Lâm sàng trong sử dụng thuốc chống đông hợp lý, hiệu quả, an toàn ở bệnh nhân ngoại khoa”
Buổi hội thảo có 2 bài báo cáo, bài đầu với chủ đề “Dược Lâm sàng trong sử dụng thuốc chống đông hợp lý, hiệu quả, an toàn ở bệnh nhân ngoại khoa” của NCS.ThS Nguyễn Thị Thu Thủy. Thuốc chống đông là nhóm thuốc có vai trò quan trọng trong phòng ngừa và điều trị huyết khối, đặc biệt ở bệnh nhân ngoại khoa. Các thuốc này tác động lên quá trình đông máu nhằm ngăn ngừa hình thành hoặc lan rộng cục máu đông, bao gồm thuốc chống đông máu, thuốc tiêu sợi huyết và thuốc chống kết tập tiểu cầu. Do thuộc nhóm thuốc nguy cơ cao, việc chỉ định và quản lý thuốc chống đông cần được thực hiện thận trọng và chính xác.
Trong ngoại khoa, phẫu thuật và tình trạng bất động sau mổ làm gia tăng đáng kể nguy cơ huyết khối tĩnh mạch sâu và thuyên tắc phổi – những biến chứng có thể gây tử vong hoặc để lại di chứng nặng nề. Vì vậy, dự phòng huyết khối tĩnh mạch là chỉ định thường gặp, đặc biệt ở các phẫu thuật lớn như chỉnh hình, ung thư, ổ bụng hoặc ở bệnh nhân chấn thương nặng. Ngoài ra, nhiều bệnh nhân đã sử dụng thuốc chống đông mạn tính do bệnh lý nền như rung nhĩ, van tim nhân tạo hay tiền sử huyết khối, đòi hỏi phải quản lý chống đông chặt chẽ trong giai đoạn quanh phẫu thuật.
Việc sử dụng thuốc chống đông ở bệnh nhân ngoại khoa là một “con dao hai lưỡi”, luôn cần cân bằng giữa nguy cơ chảy máu và nguy cơ huyết khối. Nếu dùng không phù hợp, người bệnh có thể đối mặt với chảy máu nghiêm trọng, tụ máu sau mổ hoặc các biến cố thuyên tắc nguy hiểm. Thực tế cho thấy, quản lý chống đông hợp lý giúp giảm rõ rệt tỷ lệ huyết khối, cải thiện kết quả phẫu thuật, rút ngắn thời gian nằm viện và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh.
Do đặc thù điều trị phức tạp và sự chuyển đổi chăm sóc trước – trong – sau phẫu thuật, nguy cơ sai sót trong sử dụng thuốc chống đông ở bệnh nhân ngoại khoa cao hơn so với nội khoa. Điều này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ của đội ngũ y tế, tuân thủ các quy trình chuẩn và áp dụng dược lâm sàng một cách chủ động, nhằm đảm bảo sử dụng thuốc chống đông an toàn, hiệu quả và tối ưu cho từng người bệnh.
ThS.DS Lê Thị Thu trình bày bài “Tổng kết sử dụng kháng sinh tại Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp năm 2025”
Trong chương trình quản lý sử dụng kháng sinh, các chỉ số tiêu thụ đóng vai trò quan trọng nhằm đánh giá mức độ và xu hướng sử dụng thuốc. Trong đó, DDD/100 ngày giường là chỉ số bắt buộc theo khuyến cáo của WHO và Bộ Y tế; đồng thời bệnh viện cũng áp dụng thêm DOT/100 ngày giường để phản ánh chính xác hơn thời gian sử dụng kháng sinh, đặc biệt ở bệnh nhân ICU, bệnh nhân suy thận và nhi khoa.
Năm 2025, chi phí sử dụng thuốc toàn viện tăng 28% so với năm 2024, trong đó chi phí kháng sinh tăng 25%. Thuốc kháng sinh chiếm 24,23% tổng chi phí sử dụng thuốc, chủ yếu là kháng sinh nội trú (21,26%). Nhóm betalactam chiếm tỷ lệ chi phí cao nhất (70,69%), nổi bật là cephalosporin thế hệ 3 (34,37%). Colistin và quinolon cũng là các nhóm kháng sinh có tỷ trọng chi phí cao.
Về mức độ tiêu thụ, DDD/100 ngày giường nội trú năm 2025 là 75,97, tương đương với nhiều bệnh viện đa khoa khác và tăng 9,25% so với năm 2024. Cefotaxime là kháng sinh có mức tiêu thụ cao nhất; vancomycin là thuốc có mức tăng tiêu thụ lớn nhất so với năm trước. Một số kháng sinh như cephalosporin thế hệ 4 và fosfomycin có xu hướng giảm sử dụng.
Phân tích theo khoa cho thấy khoa Ngoại Tổng hợp có DOT/100 ngày giường cao nhất, phản ánh việc sử dụng phối hợp nhiều kháng sinh. Khoa Hồi sức tích cực là nơi tập trung sử dụng nhiều kháng sinh ưu tiên quản lý và kháng sinh dự trữ, phù hợp với đặc điểm điều trị bệnh nhân nặng. Tuy nhiên, một số khoa lâm sàng ghi nhận mức tăng đáng kể sử dụng kháng sinh ưu tiên quản lý, cần tiếp tục theo dõi và can thiệp.
Kết luận, chi phí kháng sinh chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng chi phí thuốc, với cephalosporin thế hệ 3 là nhóm chiếm ưu thế. Mức tiêu thụ kháng sinh nội trú ở mức phù hợp, song có xu hướng gia tăng ở một số thuốc và khoa lâm sàng.
Đề xuất, bệnh viện cần tiếp tục giám sát đồng thời các chỉ số DDD và DOT, tăng cường phê duyệt kháng sinh ưu tiên quản lý, xây dựng hướng dẫn sử dụng kháng sinh thống nhất và nghiên cứu triển khai chương trình kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật nhằm tối ưu hiệu quả điều trị và kiểm soát kháng kháng sinh.
Hai báo cáo viên đã chia sẻ và tổng hợp các nội dung dược lâm sàng trọng tâm liên quan đến sử dụng thuốc chống đông ở bệnh nhân ngoại khoa và thực trạng sử dụng kháng sinh tại Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp năm 2025, nhấn mạnh vai trò của việc sử dụng thuốc hợp lý, hiệu quả và an toàn. Thông qua các kinh nghiệm thực tiễn, số liệu phân tích và khuyến cáo chuyên môn, chương trình góp phần giúp bác sĩ nâng cao chất lượng điều trị, hạn chế biến cố, kiểm soát nguy cơ kháng thuốc và tối ưu hóa hiệu quả chăm sóc người bệnh trong thực hành lâm sàng.
Không chỉ là dịp cập nhật kiến thức chuyên môn, buổi sinh hoạt khoa học còn tạo cơ hội để các bác sĩ, dược sĩ trao đổi, thảo luận và chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình điều trị, qua đó tăng cường phối hợp liên chuyên khoa và phát huy vai trò của dược lâm sàng trong nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh tại Bệnh viện.
CN. Lê Thị Yến Nhi – Trung tâm Đào tạo – NCKH – HTQT






